K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Nội dung chính:

-Địa hình chủ yếu gồm núi, đồng bằng ven biển và vịnh biển. Các dãy núi cao như Yên Tử, khu vực biển Hạ Long đã tạo nên một vùng đất giàu tài nguyên và thuận lợi cho đời sống con người

-Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông trồng lúa nước, chăn nuôi, săn bắn, đánh cá và khai thác tài nguyên biển. Nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt vải và đúc đồng cũng đã phát triển

-Vùng đất Quảng Ninh thuộc bộ Lục Hải hoặc bộ Vũ Ninh trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang do các vua Hùng trị vì

-Thời Âu Lạc, sau khi An Dương Vương thống nhất các vùng đất, Quảng Ninh trở thành một phần quan trọng của quốc gia này

-Quảng Ninh là khu vực giao thương quan trọng nhờ có biển và các tuyến đường thủy lớn như sông Bạch Đằng

-Cư dân nơi đây thuộc nền văn hóa Đông Sơn, với các di chỉ khảo cổ còn lưu giữ như các trống đồng, đồ gốm, công cụ lao động bằng đá và đồng

-Vùng đất Quảng Ninh là minh chứng cho sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, góp phần hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc

-Khu vực này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lãnh thổ, đặc biệt là tại các cửa ngõ phía Đông Bắc của quốc gia

..........

17 tháng 11 2024

Tham khảo ạ:
`-` Địa hình chủ yếu gồm núi, đồng bằng ven biển và vịnh biển. Các dãy núi cao như Yên Tử, khu vực biển Hạ Long đã tạo nên một vùng đất giàu tài nguyên và thuận lợi cho đời sống con người.
`-` Vùng đất Quảng Ninh thuộc bộ Lục Hải hoặc bộ Vũ Ninh trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang do các vua Hùng trị vì.
`-` Cư dân nơi đây thuộc nền văn hóa Đông Sơn, với các di chỉ khảo cổ còn lưu giữ như các trống đồng, đồ gốm, công cụ lao động bằng đá và đồng.
`-` Thời Âu Lạc, sau khi An Dương Vương thống nhất các vùng đất, Quảng Ninh trở thành một phần quan trọng của quốc gia này.

16 tháng 11 2024

Tiền sử Quảng Ninh được biết sớm nhất là ở các địa điểm thuộc Văn hóa Soi Nhụ. Vào thời kỳ của các văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, khoảng 18.000 năm về trước, lúc băng hà lần cuối cùng phát triển, mực nước biển Đông hạ thấp tới độ sâu 110 -120 mét dưới mực nước biển hiện tại. Lúc đó vịnh Bắc Bộ, trong đó có vịnh Hạ Long là một đồng bằng tam giác châu rộng lớn. Trên vùng đất khoảng vài nghìn km2 của Quảng Ninh và khu vực Vịnh Hạ Long bây giờ là một đồng bằng cổ. Ở đây đã tồn tại một cộng đồng cư dân tiền sử lớn. Họ sống trong các hang động đá vôi, trên một địa bàn độc lập so với các cư dân Hòa Bình - Bắc Sơn cùng thời đã sáng tạo ra một nền văn hóa song song tồn tại với các văn hóa Hòa Binh và Bắc Sơn, đó là nền Văn hóa Soi Nhụ, làm cơ sở để sau đó hình thành các loại hình văn hóa tiến bộ mới tại Cái Bèo, tiếp theo nền Văn hóa Hạ Long nổi tiếng.

Mặc dù các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, song với khối tư liệu thu được sau cuộc khai quật di chỉ Đầu Rằm, có thể nói rằng từ tiền sử tới sơ sử Quảng Ninh là một quá trình phát triển liên tục, không hề có bất cứ một đứt đoạn nào. Việc phát hiện các di tích sơ sử tại Quảng Ninh cũng đã góp phần khẳng định rằng vào thời Hùng VươngQuảng Ninh đã thực sự là một bộ phận của quốc gia Văn Lang.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, ngay từ thời Hùng Vương, đất nước ta đã được chia thành 15 bộ, trong đó có các bộ Ninh Hải, Lục Hải. Tất nhiên địa bàn của bộ Ninh Hải, Lục Hải thời đó không hoàn toàn trùng với địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay, ngoài Quảng Ninh thì tối thiểu hai bộ đó còn bao gồm một phần Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng và một phần Lưỡng Quảng (bao gồm một phần của 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc) ngày nay, nhưng trung tâm của Ninh Hải, Lục Hải chính là khu vực tỉnh Quảng Ninh bây giờ.

Lịch sử Ninh Hải - Lục Châu và sau này là Hải Đông là cả một thời kỳ dài liên tục đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng, phát triển. Trong thời phong kiến độc lập, tự chủ, có lẽ rất hiếm có một vùng đất nào mà hai nhiệm vụ, cũng là hai sự nghiệp ấy lại thể hiện rõ ràng như trên mảnh đất địa đầu Tổ quốc này. Trong suốt mười thế kỷ ấy, đất Hải Đông đã ghi dấu những chiến công lừng lẫy nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, với ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Không những thế, miền đất này cũng đã từng chứng kiến những công cuộc phát triển kinh tế phồn vinh nhất dưới thời phong kiến, đặc biệt với thương cảng Vân Đồn lịch sử.

Hải Đông không chỉ là một chiến trường hào hùng, nó cũng không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế đầy sôi động mà còn là một trong những cái nôi văn hóa thời phong kiến độc lập, tự chủ ở nước ta. Với Yên Tử non thiêng, Hải Đông đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa quan trọng nhất, thâm trầm nhất trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc.

Sử liệu về thời Lý - Trần còn lại quá ít ỏi, không cho phép chúng ta hiểu đầy đủ về quá trình biến đổi của đất Hải Đông. Tuy nhiên, về đại thể có thể biết được là năm 1023, sau khi dẹp yên cuộc nổi dậy của người Đại Nguyên Lịch (tên một dân tộc thiểu số ở vùng biển Việt Trung), nhà Lý đổi trấn Triều Dương thành châu Vinh An, xác định biên giới đông bắc của Đại Việt. Ít lâu sau, cả vùng Ninh Hải - Lục Châu cũ được đặt thành một phủ: phủ Hải Đông. Khoảng năm 1242, nhà Trần nâng Hải Đông lên thành lộ và đến cuối thế kỷ XIV thì đổi gọi là An Bang. Đông Triều bấy giờ còn là một châu của lộ Hải Dương.

Cùng với sự phát triển của đất nước, cư dân An Bang cũng ngày càng tăng, ruộng đất làng xóm được mở rộng, các đơn vị hành chính như huyện Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều, các châu Tiên Yên, Vĩnh An, Vân Đồn, Vạn Ninh đã được hình thành. Tổ tiên nhà Trần, vào cuối đời Lý đã đến ở vùng An Sinh (thuộc Đông Triều) làm nghề đánh cá. Sau này khu vực An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và An Bang được đặt thành thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu, anh của Trần Thái Tông. Nhà Trần tuy phát tích ở đất Thiên Trường (Nam Định) song vẫn nhớ về quê gốc Đông Triều nên lăng mộ các vua Trần đều được di dời về đây. Vùng thái ấp này biến thành khu mộ các vua nhà Trần.

Vào đời Lê Anh Tông (1556 - 1573) vì kỵ húy nhà vua đổi gọi An Bang thành An Quảng. Đến thời nhà Tây Sơn, các trấn từ Sơn Nam Hạ và Bắc được đổi gọi là Bắc Thành. Phủ Kinh Môn với 7 huyện, trong đó có cả Đông Triều đã được sáp nhập vào An Quảng. Lúc này An Quảng trở thành một trấn lớn.

Sau 24 năm chinh chiến với nhà Tây Sơn, đến ngày 3 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đã thu phục được Kinh đô Phú Xuân và năm 1802 chính thức lên ngôi Hoàng đế. An Quảng được giữ nguyên là một ngoại trấn, với một phủ Hải Đông, ba huyện Hoành Bồ, Yên Quảng, Hoa Phong và ba châu Vạn Ninh, Tiên Yên và Vân Đồn.

Năm Minh Mạng thứ ba, trấn An Quảng được đổi tên thành trấn Quảng Yên. Đến năm 1831, trấn Quảng Yên được đổi thành tỉnh do Tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) kiêm quản. Năm 1836, phủ Hải Đông được đổi tên gọi là phủ Hải Ninh, châu Vân Đồn được gộp vào huyện Hoa Phong và được gọi là tổng Vân Hải. Sau đó, nhà Nguyễn tách huyện Hoành Bồ, huyện Hoa Phong và huyện Yên Hưng ra khỏi phủ Hải Đông lập thành phủ Sơn Định, cho tri huyện Hoành Bồ kiêm quản.

Vào đầu thế kỷ XIX, do ít nhiểu tiếp xúc với tư bản phương Tây và nền kinh tế của họ nên nghề khai mỏ đã được nhà nước chú ý hơn. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên thì dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840), người ta đã bắt đầu khai thác than đá tại Đông Triều. Tháng 12 năm 1839, năm Minh Mạng thứ 20, Tổng đốc Hải An là Tôn Thất Bật đã dâng sớ xin thuê dân phu khai thác than đá tại núi An Lãng (xã Yên Thọ, huyện Đông Triều) và được Minh Mạng đồng ý. Như vậy là mãi cho đến năm 1839 thì nhà nước mới đứng ra khai thác than đá theo quy mô lớn, nhưng từ trưóc dó, nhân dân cùng đã biết lấy than đá.

Có thể nói, gói trọn một thiên niên kỷ dưới các triều đại phong kiến độc lập, lịch sử của mảnh đất Quảng Ninh cũng chính là lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước hào hùng của cha ông ta. Những thử thách gay go nh...

11 tháng 11 2021

thì mở sách LS ra

11 tháng 11 2021

biết thì thưa thớt,không biết thì hãy đi hỏi thầy Liêm sỉ trên YTB nhé 

9 tháng 1 2023

A/Chị ơi giúp em bài này đi ạ 

em cảm ơn rất nhiều ạ

9 tháng 1 2023

1- Ở địa phương Thái Bình gồm các truyền thống như :
→ Lễ hội Đền Trần
→ Hội Sáo đền
→ Lễ hội đền Tiên La
 
2-    Cuộc khởi nghĩa chống quân Bắc thuộc Thái Bình là : hai cuộc khởi nghĩa nông dân của Hoàng Công Chất và Phan Bá Vành

3-    Các công trình kiến trúc nổi tiếng như là : chùa Keo, cung Kỳ Bố, cung Ngự Thiên, chùa Phúc Thắng, chùa Báo Quốc.

4- 

Đời sống vật chất:

+ Ăn: Nguồn lương thực chính là thóc gạo (gạo nếp và gạo tẻ), ngoài ra còn có khoai, sắn. Thức ăn có các loại cá, thịt, rau, củ.

+ Ở: Tập quán ở nhà sàn.

+ Nghề sản suất chính: trồng lúa nước, chăn nuôi, nghề thủ công.

+ Đi lại chủ yếu bằng thuyền bè trên sông

+ Mặc: Nữ mặc áo, váy. Nam đóng khố.

* Đời sống tinh thần:

+ Tín ngưỡng:

+ Sùng bái tự nhiên (thờ thần Mặt Trời, thần Sông, thần Núi và tục phồn thực).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng kính các anh hùng, người có công với làng nước là nét đặc sắc của người Việt cổ.

+ Dần dần hình thành một số tục lệ: cưới xin, ma chay. Lễ hội khá phổ biến, nhất là hội mùa.

+ Có tập quán nhuộm răng đen, nhai trầu, xăm mình; cả nam lẫn nữ đều thích đeo đồ trang sức.
       Câu 4 chị nghĩ có cái đúng có cái k đúng nên em xem lại nhaaa. Chị nêu chung chung được vậy thôi ạ ~

 


 

 

27 tháng 12 2016

1.Phách

Người ta lấy nốt đen làm chuẩn. Như đã học ở bài 3 ta có giá trị trường độ của các nốt như sau :

Học kì 1

Trường độ các nốt sẽ tạo thành các phách. Mỗi ô nhịp gồm 2, 3, hoặc 4 phách... (tùy loại nhịp) và có thể có 1 hoặc 2 phách mạnh và nhẹ. Phách mạnh thứ nhất luôn đứng đầu mỗi ô nhịp. Ví dụ như nhịp 4/4 dưới đây.

Học kì 1


2/. Các loại nhịp.
Phân số xuất hiện ở đầu bản nhạc gọi là chỉ số nhịp.
Học kì 1


Tử số: xác định số phách có trong mỗi ô nhịp.
- Mẫu số: dùng để xác định trường độ thời gian của mỗi phách bằng một phần bao nhiêu của nốt tròn (từ đó tạo nên tiết tấu nhanh hay chậm cho bản nhạc), thông thường sẽ là 2, 4, hoặc 8.
Vì : 1 nốt tròn = 2 nốt trắng = 4 nốt đen = 8 nốt đơn
Nên : - Nếu mẫu số là 2, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/2 nốt tròn (tức bằng nốt trắng)
- Nếu mẫu số là 4, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/4 nốt tròn (tức bằng nốt đen)
- Nếu mẫu số là 8, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/8 nốt tròn (tức bằng móc đơn)
Tóm lại : - Nếu chỉ số nhịp là 2/4 (đọc là nhịp hai bốn) thì mỗi nhịp có 2 phách, và mỗi phách có giá trị bằng 1 nốt đen (1/4 nốt tròn) như đoạn nhạc ở đầu bài viết.
- Nếu là nhịp 6/8 thì mỗi nhịp có 6 phách, và giá trị mỗi phách là 1 móc đơn (1/8 nốt tròn).
*** Để dễ hiểu hơn, bạn hãy xem 5 đoạn nhạc dưới đây tượng trưng cho 5 nhịp thông dụng. Dãy số dưới đoạn nhạc là số phách có trong mỗi ô nhịp, còn dấu ‘ > ’ ở trên là phách mạnh (nơi chuyển hợp âm nếu cần).
Học kì 1

nhịp 2/4 là nhịp gồm có 2 phách, giá trị mỗi phách = 1 nốt đen. phách thứ nhất là phách mạnh, phách thứ hai là phách nhẹ

27 tháng 12 2016

Lưu Hữu Phước (1921-1989) là một nhạc sĩ, tác giả của những bản hùng ca, giải phóng; tác phẩm của ông luôn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Ông là Giáo sư, Viện sĩ, Nhà lý luận âm nhạc; nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nguyên Đại biểu Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

31 tháng 12 2023

 câu kể tên danh lam tìm thấy dấu tích nguyên thủy lào cai

Lào Cai là nơi cư trú của người nguyên thủy (20.000 năm trước). + Vạn Hoà (xã Vạn Hoà, thành phố Lào Cai), + Mai Đào, xã Thượng Hà (huyện Bảo Yên), …

câu 

31 tháng 12 2023

đây GDĐP mà

*Thời gian ở cùng ông bà: 1 tháng

 

*Nội dung cần thực hiện:

-Về việc học

-Về các sinh hoạt cá nhân

 

*Cách thực hiện:

Về học tập:-Học tập các bài tập mới và các phần nâng cao

-Bài khó có thể hỏi người lớn hoặc tham khảo trên mạng

-Học đều các môn,cs thể chuẩn bị các bài mới trước khi tới trường

Về sinh hoạt:-Quan tâm và dành thời gian cho ông bà

-Giúp đỡ ông bà nhưng công việc vừa sức

-dậy sớm,ăn ngủ đúng giờ và có nề nếp

 

*Đánh giá bản thân:

..............

LM
Lê Minh Hiếu
Giáo viên
26 tháng 7 2021

- Sắp tới kì nghỉ hè, bố mẹ dự định cho em về quê. Em thiết kế cuốn sổ tay để nhắc nhở bản thân trong sinh hoạt và học tập khi về quê ngoại một tháng sống cùng ông bà như sau:

Thời gian

Nội dung nhắc nhở

Cách thức thực hiện

Tự đánh giá

Một tháng

- Về học tập

- Tự giác ôn bài không cần ai nhắc nhở

- Đọc thêm sách tham khảo và làm bài tập sách nâng cao

- Tự ôn và học thêm từ mới tiếng Anh qua mạng,…

-…

 

- Về sinh hoạt hằng ngày

- Thời gian rảnh rỗi tự giác giúp ông bà làm việc nhà như: giặt quần áo, nấu cơm, rửa bát chén, dọn nhà cửa…

- Tập thể dục, thể thao: nhờ ông bà dạy bơi...

- Xem tivi cùng ông bà, nghe ông bà kể chuyện… 

 

 
23 tháng 11 2021

tham khảo:

- Sắp tới kì nghỉ hè, bố mẹ dự định cho em về quê. Em thiết kế cuốn sổ tay để nhắc nhở bản thân trong sinh hoạt và học tập khi về quê ngoại một tháng sống cùng ông bà như sau:

Thời gian

Nội dung nhắc nhở

Cách thức thực hiện

Tự đánh giá

Một tháng

- Về học tập

- Tự giác ôn bài không cần ai nhắc nhở

- Đọc thêm sách tham khảo và làm bài tập sách nâng cao

- Tự ôn và học thêm từ mới tiếng Anh qua mạng,…

-…

 

- Vệ sinh hoạt hằng ngày

- Thời gian rảnh rỗi tự giác giúp ông bà làm việc nhà như: giặt quần áo, nấu cơm, rửa bát chén, dọn nhà cửa…

- Tập thể dục, thể thao: nhờ ông bà dạy bơi...

- Xem tivi cùng ông bà, nghe ông bà kể chuyện… 

Với vị thế là một kinh đô lâu đời hơn một nghìn năm tuổi, một đô thị thủ phủ lớn nhất nước, Hà Nội là sự hội tụ tất cả tinh hoa của đất nước. Cố PGS Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Hà Nội có cái duyên dáng của Bắc Ninh, cái cứng cỏi của Nghệ Tĩnh, cái phóng khoáng của Nam Bộ, cái chân chất của những xứ Thượng xa gần”. Nhận xét đó thật chính xác, bởi với cách tiếp cận như vậy có thể thấy hết được đặc điểm của Hà Nội mà người dân sống ở đó là đại diện tiêu biểu nhất. Hà Nội sẵn sàng mở rộng cửa để tiếp nhận những yếu tố tốt đẹp, tích cực của các vùng khác. Tuy vậy, sự tiếp nhận ở đây không phải là một sự tiếp nhận tùy tiện mà thông qua một quá trình chọn lọc tự nhiên nhưng nghiêm khắc để rồi phát triển, hoàn thiện hơn, tạo nên những “sản phẩm” riêng, độc đáo.

Người Hà Nội luôn mang một thái độ ứng xử có văn hóa. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhiều học giả về văn hóa ứng xử của người Hà Nội, bên cạnh thái độ thân thiện và cởi mở, người Hà Nội luôn thể hiện thái độ tự trọng và tôn trọng người khác; thái độ trung thực, thẳng thắn; lòng nhân ái, bao dung… Trong giao tiếp, ứng xử của người Hà Nội có những sắc thái riêng biệt và thường được biết đến với một tên gọi chung là “thanh lịch”. Nét thanh lịch của người Hà Nội được thể hiện hết sức đa dạng trong lối sống, trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng, trong văn hóa ẩm thực và kiến trúc. Trong phạm vi giao tiếp, nét thanh lịch của người Hà Nội được biểu hiện ở sự thanh thoát, thanh tao, thanh nhã trong lời ăn tiếng nói (ngôn ngữ giao tiếp); ở sự lịch lãm, lịch thiệp và lịch sự trong cử chỉ, điệu bộ, trang phục và phong cách giao tiếp.

Bản thân cái gốc Hà Nội đã là kết quả của sự tụ hội, kết tinh của những tinh hoa văn hóa, nhân cách của nhiều vùng miền, địa phương trong cả nước. Con trai Hà Nội mang cái chí khí, dũng cảm chung của thanh niên Việt Nam. Con gái Hà Nội cũng duyên dáng, nhẹ nhàng, e lệ như nhiều cô gái vùng miền khác. Nhưng ở họ lại có gì đó rất riêng, rất sâu, không thể hòa tan trong cái cộng đồng chung.

Người Hà Nội luôn sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, ứng xử có văn hóa. Ngoài cái thanh, cái đẹp của tiếng nói Hà Nội thì trong ngôn ngữ giao tiếp, tính văn hóa được thể hiện rõ nét ở cách xưng hô, chào hỏi và cách nói, cách biểu đạt ngôn từ. Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, người Hà Nội luôn toát lên một vẻ thanh nhã, thanh tao, một sự nền nã, tự trọng và tôn trọng, cách dụng ngôn tinh tế, khoáng đạt, chuẩn mực và mẫu mực; hàm ngôn phong phú, thanh thoát và giàu hình ảnh; cách phát âm chuẩn mực, rõ ràng, với ngữ điệu nhẹ nhàng, nền nã, linh hoạt và uyển chuyển. Cùng với chất giọng hay là lời nói đẹp, cảm ơn và xin lỗi, nếp gia phong đi chào, về hỏi; cách xưng hô phù hợp với tuổi tác kính già, quý trẻ, nụ cười thân thiện thay cho lời chào. Kẻ Chợ là nơi hội tụ người tứ xứ, do đó cũng là nơi chung đúc tiếng nói của bốn phương, rồi qua sàng lọc tự nhiên đã lắng đọng những gì tinh túy nhất, tiêu biểu nhất, hợp lý nhất. Điều đó cũng cho thấy, người dân từ các miền quê không chỉ mang tới đô thành những sản vật đặc trưng của địa phương mà còn mang đến cả lời ăn tiếng nói, lối sống giản dị, khiêm nhường cùng lối ứng xử, giao tiếp niềm nở, ân cần, mộc mạc, ân tình…, lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử; có ý thức trọng danh dự về mặt chủ thể giao tiếp và đặc biệt quan tâm đến đối tượng giao tiếp, hay hỏi han, quan sát, đánh giá tỉ mỉ từ hình thức đến nội dung; cách thức giao tiếp mềm mỏng, tế nhị với sự hỗ trợ của hệ thống nghi thức phong phú. Điều đó đã làm nên chất Thăng Long-Hà Nội thuần hậu, chất phác, thanh lịch.

Trong ứng xử, người Hà Nội luôn chú ý cung cách hành vi, điệu bộ và cử chỉ. Nhận xét về cung cách hành vi, cử chỉ trong giao tiếp của người Hà Nội, có nghiên cứu cho rằng: “Tiếp xúc với người Hà Nội… không ai là không nhận thấy sự lịch thiệp và tế nhị ở họ… Từ cử chỉ đến lời chào, cách tiếp chuyện, vẫn có tình cảm chân thật, cởi mở, gần gũi, nhưng có vẻ hơi cao sang khiến người ta có phần vì nể”. Tính có văn hóa trong cung cách hành vi và cử chỉ giao tiếp của người Hà Nội đặc trưng bởi tính thân mật, gần gũi mà không suồng sã, xô bồ; tính giản dị, chân phương song không đơn giản, thô kệch; tính lễ độ, phép tắc mà không khúm núm, bợ đỡ; tính đàng hoàng, lịch thiệp mà không khách sáo; tính chắt lọc, tinh tế mà không diệu vợi, rườm rà...

Có thể nói, sống trên mảnh đất là nơi hội tụ, tích hợp các luồng văn hóa, người Hà Nội có điều kiện thẩm thấu, chắt lọc và tỏa sáng vẻ đẹp của văn hóa ứng xử. Cái thanh, cái đẹp của người Hà Nội xưa thể hiện ở giọng nói phát âm chuẩn mực, nhẹ nhàng; cách phục sức giản dị, nho nhã; lối giao tiếp khiêm nhường, mến khách; cách ăn uống thanh cảnh, điềm đạm “ngọn giá cắn đôi” nhưng không kém phần tinh túy, sành điệu... Người Hà Nội làm ra bao món ăn nổi tiếng, trở thành đặc sản chốn kinh kỳ như: Phở Bát Đàn, bún thang Đồng Xuân, chả cá Lã Vọng, “Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì/ Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn”... Hà Nội còn mang vẻ đẹp truyền thống của văn hóa, văn học đậm nét Thăng Long, nơi hội tụ tao nhân mặc khách bốn phương, với những địa danh nổi tiếng đã đi vào thơ văn nhiều thế hệ.

Những hành vi ứng xử “lệch chuẩn”

Với vùng đất được coi là “tứ chiếng”, tập hợp nhiều người ở khắp mọi miền đất nước về sinh sống làm ăn rồi lập nghiệp lâu dài, Hà Nội luôn chứng kiến một quá trình biến đổi, giao hòa, ổn định và phát triển giữa các đặc trưng của người Hà Nội “gốc” và người dân nhập cư. Hàng chục vạn dân của các địa phương đến Hà Nội hằng năm mang cả phong tục tập quán, thói quen, văn hóa, lối sống, ứng xử của vùng quê của họ-cả tốt và chưa tốt. Một Hà Nội kinh kỳ, xứ Tràng An hiện nay đang tồn tại rất nhiều hành vi ứng xử thiếu văn hóa.

Có thể bắt gặp không ít hiện tượng chưa đẹp trên đường phố, nơi công cộng, gây bức xúc cho nhiều người. Chưa bao giờ văn hóa giao thông của người dân Hà thành lại đáng báo động như những năm gần đây. Trên phương tiện công cộng, một số “nhà xe” thiếu tôn trọng khách, thoải mái văng, ném những “phụ từ” tục tĩu với âm lượng rất lớn đập vào tai hành khách. Ngoài đường phố, dù chỉ một va chạm nhỏ, người ta cũng dễ dàng nổi khùng chửi bới, thậm chí dùng mũ bảo hiểm làm vũ khí để quật nhau không thương tiếc. Văn hóa bán hàng hay văn hóa phục vụ khách hàng, văn hóa ẩm thực đã bị phai nhạt, biến đổi, không còn giữ được những nét đẹp vốn có của Hà Nội ngày xưa. Có chủ hàng sẵn sàng “đốt vía” nếu như khách vô tình “mở hàng” mà không mua. Lối cư xử nhã nhặn, thanh lịch của người Hà Nội nay đang mất dần, thay vào đó là lối nói xô bồ, tục tĩu, “huỵch toẹt”, kiểu ăn nói “lệch chuẩn”, nhất là ở giới trẻ. Việc ăn uống nhiều nơi xô bồ, ầm ĩ, thậm chí có người còn gây sự với nhau khi “quá chén”...

Từ những thói quen bảo lưu, trọng tĩnh thì giờ đây con người phải dần dần trung hòa tính trọng động để có thể đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống. Cuộc sống thanh bình, giản đơn trước kia nay đã thay đổi và mai một dần trong guồng quay hối hả của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và công nghiệp hóa. Môi trường phát triển ngày nay đã, đang và sẽ khiến người dân Hà Nội ngày càng bận rộn hơn, ít thời gian dành cho gia đình hơn và do đó ứng xử trong bữa cơm của các gia đình cũng có nhiều thay đổi. Để theo kịp sự tiến bộ xã hội, nhiều người sẽ lựa chọn nâng cao trình độ của mình hay tập trung vào công việc nhiều hơn rồi mới lo vun vén cho tổ ấm gia đình. Do đó, bữa ăn của gia đình cũng trở nên đơn giản hơn. Nhiều gia đình cũng vì thế mà tan vỡ…

Thăng Long-Hà Nội xưa đã từng là nơi cư trú hòa đồng của những cư dân từ bốn phương tụ hội, Hà Nội nay thực sự trở thành đô thị sầm uất bậc nhất với hàng triệu người ngoại tỉnh nhập cư. Thế nhưng, thay vì tiếp nối truyền thống “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, kẻ đến trước giúp đỡ người đến sau dù không cùng quê quán, thì những người “hàng phố”, “hàng phường” ngày nay thường chỉ biết có riêng mình, mà hầu như không cần quan tâm đến người xung quanh. Đó là chưa nói đến đạo đức, lối sống của một bộ phận cư dân Hà Nội bị băng hoại. Cách thức ứng xử với môi trường thiên nhiên, với môi trường xã hội và với bản thân ở một bộ phận người dân Thủ đô chưa hòa quyện thành một thể thống nhất, mà đây lại là một trong những tiêu chí cơ bản của văn hóa ứng xử.

Thiết nghĩ, văn hóa ứng xử văn minh, thanh lịch Hà Nội cần phải được nhìn với thái độ công bằng, khách quan, khoa học để phân tích, lý giải. Sự chỉ trích và cách giải thích có phần vội vàng, thiếu cơ sở cho rằng nguyên nhân của sự xuống cấp về văn hóa ứng xử là do dòng chuyển cư ồ ạt, hoặc đổ lỗi cho mặt trái kinh tế thị trường… là không biện chứng. Những phẩm chất đã có cần một sự khích lệ đầy đủ, một chính sách văn hóa hoàn chỉnh hơn để khẳng định sức mạnh dẫn dắt của cái đẹp, cái đúng, cái tốt. Hơn nữa, cũng đừng tìm kiếm sự khác biệt trong phẩm chất người Hà Nội so với người ở các địa phương khác, mà nên quan tâm nhiều hơn tới sự kết tinh, tỏa sáng phẩm chất Việt trong mỗi con người Hà Nội.

Câu 1: Hùng luôn muốn mình học giỏi như bạn Đức,  nhưng Hùng nghĩ rằng đó là điều rất khó với mình, vì bạn cho rằng những người học giỏi là những người có tố chất thông minh. Vì vậy không thông minh có cố gắng mấy cũng không thể học giỏi được. Em hãy cho biết:a. Suy nghĩ và quan niệm của Hùng là đúng hay sai? Vì sao?b. Nếu em là bạn của Hùng em sẽ khuyên bạn như thế nào?Câu 2:...
Đọc tiếp

Câu 1: Hùng luôn muốn mình học giỏi như bạn Đức,  nhưng Hùng nghĩ rằng đó là điều rất khó với mình, vì bạn cho rằng những người học giỏi là những người có tố chất thông minh. Vì vậy không thông minh có cố gắng mấy cũng không thể học giỏi được. Em hãy cho biết:

a. Suy nghĩ và quan niệm của Hùng là đúng hay sai? Vì sao?

b. Nếu em là bạn của Hùng em sẽ khuyên bạn như thế nào?

Câu 2: Phát hiện bạn Công đã tung tin không đúng sự thật trên mạng xã hội, mục đích gây sốc để nhận được nhiều lượt yêu thích và bình luận. Em hãy cho biết:

a. Hành động tung tin của bạn Công là đúng hay sai?

b. Trong tình huống đó, nếu em là bạn của Công thì em sẽ làm gì?

Câu 3: Trường suốt ngày chơi điện tử, không học bài và không làm việc nhà giúp đỡ bố mẹ. Ở gia đình mọi việc Trường thường ỷ lại vào bác giúp việc. Trên lớp, Trường thường mua đồ ăn mời các bạn để được nhìn bài khi tới giờ kiểm tra. Em hãy cho biết:

a. Những hành động và việc làm trên của Trường là đúng hay sai? Vì sao?

b. Nếu em là bạn của Trường, em sẽ khuyên bạn như thế nào?

 

0