- Vũ Trinh (1759 – 1828), người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh).
- Ông sáng tác cả thơ và văn xuôi.
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ và vị trí:
Con hổ có nghĩa
_Vũ Trinh_
Huyện Đông Triều có bà đỡ là bà Trần. Một đêm bà nghe tiếng gõ cửa, bèn mở cửa nhìn khắp xung quanh mà chẳng thấy ai. Đột nhiên, có con hổ chồm tới cõng bà đi. Ban đầu, bà sợ chết khiếp. Sau đó, bà tỉnh táo lại, thấy hổ dùng một chân trước ôm bà chạy như bay, gặp bụi rậm gai góc thì dùng một chân rẽ lối, từ từ mà đi. Tới chỗ ngọn núi sâu trong rừng, hổ thả bà xuống. Bà lại thấy một con hổ cái đang cào đất, lăn lộn. Bà cho là hổ định ăn thịt mình, sợ hãi không dám động đậy. Hổ đực dùng chân chỉ dẫn bà nhìn hổ cái và chảy nước mắt. Bà thấy như có cái gì động đậy trong bụng hổ cái, biết là nó sắp đẻ. Sẵn có thuốc kích đẻ trong dải áo, bà bèn hoà với nước suối cho nó uống. Cảm thấy hổ cái đỡ đau, bà lại xoa bóp bụng cho nó. Lát sau thì hổ sinh con. Bà thấy hổ đực mừng rỡ đùa giỡn với con mình, còn hổ cái thì nằm phục xuống, dáng mệt mỏi lắm. Hổ đực rời khỏi gốc cây, đến bên bà đỡ, quỳ chân trước trên đất, vừa quỳ vừa nhìn bà, lát sau đưa ra một khối bạc. Bà biết hổ tặng mình, nhận lấy và buộc vào thắt lưng. Hổ đực từ từ đứng dậy, vừa đi vừa ngoái nhìn bà. Bà theo hổ ra khỏi rừng. Lúc rời khỏi khu rừng, trời sắp sáng, bà giơ tay nói: “Xin chúa sơn lâm quay về”. Hổ bèn dừng lại quỳ xuống, hướng về bà đỡ cúi đầu quẫy đuôi tỏ ý tiễn biệt. Bà đi khá xa, hổ mới gầm lớn rồi rời đi. Bà về đến nhà, bỏ bạc ra cân được hơn mười lạng. Năm ấy mất mùa, bà nhờ có số bạc ấy mà sống qua được.
Huyện Lạng Giang có một người tiều phu nọ đang kiếm củi ở chân núi. Từ xa thấy cây cối trong thung lũng phía trước ngọn núi lay động không ngớt, bác tiều mới vác búa đến xem. Bác ngó quanh thì thấy một con hổ trán trắng, to như con bò, khi thì cúi đầu cào đất, khi thì nhảy lên vật xuống, thỉnh thoảng lấy chân móc họng, miệng ngoác lớn như cái sàng, máu chảy lênh láng. Bác tiều phu thấy miệng hổ có khúc xương mắc trong họng. Bàn chân hổ móng vuốt lớn, càng móc, khúc xương càng vào sâu. Bác tiều chậm rãi uống rượu lấy can đảm, rồi trèo lên cây hô lên rằng: “Cổ họng ngươi đau phải không? Đừng cắn ta, ta sẽ lấy xương ra cho ngươi”. Hổ nghe thấy, nằm phục xuống, há miệng hướng về bác tiều như cầu cứu. Bác tiều trèo xuống, thò tay vào cổ họng hổ, lấy ra một chiếc xương bò to như cánh tay. Hổ liếm mép, vừa bỏ đi vừa nhìn khuôn mặt bác tiều. Bác tiều hô lớn: “Nhà ta ở thôn ấy, hễ được miếng ngon thì nhớ nhau nhé”. Bác tiều ra về được mấy hôm, nửa đêm nghe thấy ngoài cửa có tiếng kêu rất dữ dội. Sáng hôm sau mở cửa, bác tiều thấy có một con hươu chết ở đó. Nhiều năm sau, bác tiều qua đời. Lúc sắp chôn, một con hổ bỗng nhiên đến trước mộ. Những người đưa đám bỏ chạy, từ xa thấy hổ dùng đầu dụi vào quan tài, gầm gừ, gào lớn, đi quanh quan tài vài vòng rồi bỏ đi. Về sau, mỗi dịp đến ngày giỗ bác tiều, hổ lại đưa hươu, lợn đến để ở ngoài cửa, mấy chục năm liền.
(Dương Tuấn Anh dịch, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 5/2021, tr. 47 – 49)
Điền vào chỗ trống.
Con hổ có nghĩa là truyện thứ
7
8
trong 45 truyện ngắn viết bằng chữ
Hán
Nôm
trong
Lan Trì kiến văn lục
Truyền kì mạn lục
.
b. Thể loại: truyện truyền kì.
c. Phương thức biểu đạt chính:
Con hổ có nghĩa
_Vũ Trinh_
Huyện Đông Triều có bà đỡ là bà Trần. Một đêm bà nghe tiếng gõ cửa, bèn mở cửa nhìn khắp xung quanh mà chẳng thấy ai. Đột nhiên, có con hổ chồm tới cõng bà đi. Ban đầu, bà sợ chết khiếp. Sau đó, bà tỉnh táo lại, thấy hổ dùng một chân trước ôm bà chạy như bay, gặp bụi rậm gai góc thì dùng một chân rẽ lối, từ từ mà đi. Tới chỗ ngọn núi sâu trong rừng, hổ thả bà xuống. Bà lại thấy một con hổ cái đang cào đất, lăn lộn. Bà cho là hổ định ăn thịt mình, sợ hãi không dám động đậy. Hổ đực dùng chân chỉ dẫn bà nhìn hổ cái và chảy nước mắt. Bà thấy như có cái gì động đậy trong bụng hổ cái, biết là nó sắp đẻ. Sẵn có thuốc kích đẻ trong dải áo, bà bèn hoà với nước suối cho nó uống. Cảm thấy hổ cái đỡ đau, bà lại xoa bóp bụng cho nó. Lát sau thì hổ sinh con. Bà thấy hổ đực mừng rỡ đùa giỡn với con mình, còn hổ cái thì nằm phục xuống, dáng mệt mỏi lắm. Hổ đực rời khỏi gốc cây, đến bên bà đỡ, quỳ chân trước trên đất, vừa quỳ vừa nhìn bà, lát sau đưa ra một khối bạc. Bà biết hổ tặng mình, nhận lấy và buộc vào thắt lưng. Hổ đực từ từ đứng dậy, vừa đi vừa ngoái nhìn bà. Bà theo hổ ra khỏi rừng. Lúc rời khỏi khu rừng, trời sắp sáng, bà giơ tay nói: “Xin chúa sơn lâm quay về”. Hổ bèn dừng lại quỳ xuống, hướng về bà đỡ cúi đầu quẫy đuôi tỏ ý tiễn biệt. Bà đi khá xa, hổ mới gầm lớn rồi rời đi. Bà về đến nhà, bỏ bạc ra cân được hơn mười lạng. Năm ấy mất mùa, bà nhờ có số bạc ấy mà sống qua được.
Huyện Lạng Giang có một người tiều phu nọ đang kiếm củi ở chân núi. Từ xa thấy cây cối trong thung lũng phía trước ngọn núi lay động không ngớt, bác tiều mới vác búa đến xem. Bác ngó quanh thì thấy một con hổ trán trắng, to như con bò, khi thì cúi đầu cào đất, khi thì nhảy lên vật xuống, thỉnh thoảng lấy chân móc họng, miệng ngoác lớn như cái sàng, máu chảy lênh láng. Bác tiều phu thấy miệng hổ có khúc xương mắc trong họng. Bàn chân hổ móng vuốt lớn, càng móc, khúc xương càng vào sâu. Bác tiều chậm rãi uống rượu lấy can đảm, rồi trèo lên cây hô lên rằng: “Cổ họng ngươi đau phải không? Đừng cắn ta, ta sẽ lấy xương ra cho ngươi”. Hổ nghe thấy, nằm phục xuống, há miệng hướng về bác tiều như cầu cứu. Bác tiều trèo xuống, thò tay vào cổ họng hổ, lấy ra một chiếc xương bò to như cánh tay. Hổ liếm mép, vừa bỏ đi vừa nhìn khuôn mặt bác tiều. Bác tiều hô lớn: “Nhà ta ở thôn ấy, hễ được miếng ngon thì nhớ nhau nhé”. Bác tiều ra về được mấy hôm, nửa đêm nghe thấy ngoài cửa có tiếng kêu rất dữ dội. Sáng hôm sau mở cửa, bác tiều thấy có một con hươu chết ở đó. Nhiều năm sau, bác tiều qua đời. Lúc sắp chôn, một con hổ bỗng nhiên đến trước mộ. Những người đưa đám bỏ chạy, từ xa thấy hổ dùng đầu dụi vào quan tài, gầm gừ, gào lớn, đi quanh quan tài vài vòng rồi bỏ đi. Về sau, mỗi dịp đến ngày giỗ bác tiều, hổ lại đưa hươu, lợn đến để ở ngoài cửa, mấy chục năm liền.
(Dương Tuấn Anh dịch, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 5/2021, tr. 47 – 49)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
Nghị luận.
Biểu cảm.
Miêu tả.
Tự sự.
d. Ngôi kể: ngôi thứ ba.
e. Tóm tắt
- Câu chuyện thứ nhất: hổ cái đau đẻ, hổ đực đi tìm bà đỡ Trần ở huyện Đông Triều. Bà đỡ cho hổ cái uống thuốc, xoa bóp bụng và giúp hổ đẻ được. Hổ đực mừng rỡ và đền ơn bà khối bạc.
- Câu chuyện thứ hai: bác tiều phu ở huyện Lạng Giang đang kiếm củi ở chân núi, thấy một con hổ bị hóc xương bèn giúp hổ lấy xương ra. Để tạ ơn, hổ đền ơn bác cả khi sống và khi chết.
II. Tìm hiểu nội dung văn bản
1. Con hổ với bà đỡ Trần, bác tiều phu
Con hổ với bà đỡ Trần
Con hổ với người tiều phu
Nhận xét
- Hổ cái sắp sinh con, đau đớn, lo lắng.
- Hổ đực đi tìm bà đỡ Trần.
Hổ bị hóc xương, đau đớn, bất lực.
Tình huống nguy hiểm, cần sự giúp đỡ.
- Lúc đầu, bà Trần sợ hãi, không dám động đậy.
- Lúc sau, bà cho uống thuốc, xoa bóp bụng, giúp hổ cái sinh con.
- Lúc đầu, người tiều phu sợ hãi, bèn uống rượu lấy can đảm.
- Lúc sau, bác lấy khúc xương trong họng hổ.
Hành động dũng cảm, cao đẹp, thể hiện lòng nhân ái, yêu thương loài vật.
- Hổ đực tặng cho bà một khối bạc (đền ơn bằng vật chất).
- Hổ đực dẫn bã đỡ ra khỏi rừng (bảo vệ an toàn cho bà).
- Hổ đực quỳ xuống, hướng về phía bà (thái độ biết ơn).
- Hổ gầm lớn khi bà đã đi xa (lời chào, lời cảm ơn).
- Hổ nhìn khuôn mặt bác tiều phu (ghi nhớ khuôn mặt ân nhân).
- Hổ mang hươu đến và gầm dữ dội (tặng quà và gửi lời tri ân).
- Hổ đến trước mộ, dụi đầu vào quan tài (thăm viếng, thể hiện lòng thương mến, xót xa).
- Hổ gầm gừ, gào lớn (lời tâm sự, lời xót xa, đau đớn).
Hổ có tình nghĩa, cảm kích và luôn biết ơn người đã giúp đỡ mình.
2. Bài học từ các câu chuyện
- Biết tri ân, ghi nhớ, đền đáp những người đã giúp đỡ mình những lúc hoạn nạn, khó khăn.
- Biết giúp đỡ, hỗ trợ người khác.
III. Tổng kết
1. Nội dung
Văn bản có hai câu chuyện nói về lòng biết ơn của con hổ đối với những người đã giúp đỡ nó vượt qua khó khăn, nguy hiểm. Qua đó, văn bản răn dạy con người về đạo lí sống đề cao sự biết ơn.
2. Nghệ thuật
- Sử dụng biện pháp nhân hóa, xây dựng hình ảnh nhân vật gần gũi.
- Tình huống truyện hấp dẫn, kịch tính.
- Lối kể chuyện dễ tiếp nhận, thu hút.
B. TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI Ở SÁCH GIÁO KHOA
Câu 1 (trang 16, SGK Ngữ văn 7, tập 2) Các con hổ đã được bà đỡ Trần và bác tiều phu giúp đỡ như thế nào?
Con hổ được bà đỡ Trần giúp: vừa quỳ vừa nhìn bà (thể hiện thái độ biết ơn) – tặng khối bạc (tạ ơn bằng vật chất) – dẫn ra khỏi rừng (bảo vệ an toàn cho ân nhân) – quẫy đuôi tiễn biệt – bà đỡ đi khá xa mới gầm lớn rồi rời đi (vừa quan sát để đảm bảo sự an toàn của ân nhân, vừa thể hiện tình cảm lưu luyến, trân trọng).
Con hổ được bác tiều giúp: nhìn khuôn mặt bác tiều (để ghi nhớ khuôn mặt ân nhân) – mang hươu đến và gầm dữ dội (tặng quà và gửi lời tri ân) – đến trước mộ, dụi đầu vào quan tài, gầm gào (đến viếng, thể hiện lòng thương mến, xót xa đối với ân nhân đã khuất) – ngày giỗ lại nhớ mang các con thú đến để ở ngoài cửa trong mấy chục năm liền (tình cảm vững bền, khắc cốt ghi tâm ơn nghĩa của ân nhân với mình).
Câu 3 (trang 16, SGK Ngữ văn 7, tập 2) Em cảm nhận được điều gì về tiếng gầm của hai con hổ ở phần cuối mỗi câu chuyện?
- Con hổ thứ nhất “gầm lớn”: một lời chào đến ân nhân từ khoảng cách rất xa.
- Con hổ thứ hai “gầm gừ, gào lớn”: lúc đầu âm thanh nhỏ như lời tâm sự, sau gào lớn như thể hiện nỗi đau thương khi ân nhân đã mất.
Câu 4 (trang 16, SGK Ngữ văn 7, tập 2) Mượn hình tượng con hổ có nghĩa, tác phẩm đã gửi gắm bài học đạo lí nào cho con người?
- Văn bản đã để cao lối sống ân nghĩa thủy chung của con người thông qua hình tượng chú hổ.
- Hổ vốn là một con vật hung dữ, dữ tợn, hổ được chọn làm nhân vật đã khiến cho tính chất ca ngợi, bài học đạo đức của câu chuyện trở nên sâu sắc hơn.
Câu 5 (trang 16, SGK Ngữ văn 7, tập 2) Việc tác giả ghép hai câu chuyện khác nhau vào trong cùng một văn bản có ý nghĩa gì? Theo em, nếu bớt đi một câu chuyện, ý nghĩa của văn bản có thể bị ảnh hưởng như thế nào?
- Điểm tương đồng của hai câu chuyện:
+ Có nhân vật con hổ đang trong tình huống khó khăn, cần sự giúp đỡ.
+ Sau khi được giúp đỡ, con hổ cũng biết đền ơn đáp nghĩa rất chân thành.
è Bài học chung của hai câu chuyện: phải biết tri ân, biết đền đáp những người giúp đỡ mình, làm những điều tốt đẹp cho mình.
- Nếu bớt đi một câu chuyện:
+ Văn bản sẽ mất đi khả năng nhấn mạnh bài học đạo lí làm người.
+ Văn bản sẽ khiến câu chuyện Con hổ có nghĩa là câu chuyện cá biệt. Điều đó ảnh hưởng tới nhận thức đạo lí làm người ai cũng cần có – nhận ơn thì phải trả ơn.
Câu 6 (trang 16, SGK Ngữ văn 7, tập 2) Nêu cảm nghĩ về một chi tiết em thấy ấn tượng nhất trong truyện.
- Học sinh tự suy nghĩ trả lời câu hỏi theo quan điểm cá nhân.