Câu 1

Gạch chân dưới các từ đồng nghĩa chỉ màu xanh trong dòng sau:

xanh xanh, trắng tinh, xanh tươi, xanh tốt, đo đỏ, xanh mát, xanh lè, đen đủi, xanh lơ, xanh non, sanh đẻ. 

Câu 2

Nhóm các từ đồng nghĩa chỉ màu trắng là

trắng tinh, trăng trắng, trắng ngần, trắng phau, trắng nõn.
đo đỏ, đỏ bừng, đỏ ôi, đỏ chóe, đỏ chót, đỏ hoe.
xanh rì, xanh xao, xanh biếc, xanh lơ, xanh nhạt.
đen sì, đen thui, đen đúa, đen kịt, đen nhẻm, đen giòn.
Câu 3

Nhóm các từ đồng nghĩa chỉ màu đen là

xanh rì, xanh xao, xanh biếc, xanh lơ, xanh nhạt.
trắng tinh, trăng trắng, trắng ngần, trắng phau, trắng nõn.
đen sì, đen thui, đen đúa, đen kịt, đen nhẻm, đen giòn.
đo đỏ, đỏ bừng, đỏ ôi, đỏ chóe, đỏ chót, đỏ hoe.
Câu 4

Chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống:

Bạn Nam có nước da đen ... .

đen giòn.
đen sì.
đen đủi.
đen kịt.
Câu 5

Điền từ bắt đầu bằng tiếng "xanh" thích hợp vào chỗ trống:

Người bệnh có nước da ... ... .

xanh biếc.
xanh ngắt.
xanh lè.
xanh xao.
Câu 6

Điền từ thích hợp vào chỗ trống:

Mặt trời ... ... từ từ nhô lên sau rặng tre, ngày mới bắt đầu.

đỏ nhừ.
đỏ hỏn.
đỏ rực.
đỏ ngầu.
Câu 7

Điền từ chứa tiếng "trắng" thích hợp vào chỗ trống:

Em bé ... ... xinh xắn trông thật đáng yêu.

trắng tinh.
trắng xóa.
trắng muốt.
trắng trẻo.
Câu 8

Chọn từ thích hợp trong ngoặc để hoàn chỉnh bài văn sau:

Cá hồi vượt thác

Đàn cá hồi gặp thác phải nghỉ lại lấy sức để ngày mai vượt sóng. Suốt đêm thác réo (điên cuồng / dữ dằn / điên đảo). Nước tung lên thành những búi trắng như tơ. Suốt đêm đàn cá rậm rịch.

Mặt trời vừa (mọc / ngoi / nhô) lên. Dòng thác óng ánh (sáng trưng / sáng quắc / sáng rực) dưới nắng. Tiếng nước xối (gầm rung / gầm vang / gầm gào). Những con cá hồi lấy đà lao vút lên như chim. Chúng xé toạc màn mưa thác trắng. Những đôi vây xòe ra như đôi cánh.

Đàn cá hồi lần lượt vượt thác an toàn. Đậu "chân" bên kia ngọn thác, chúng chưa kịp chờ cho cơn choáng đi qua, lại (cuống cuồng / hối hả / cuống quýt) lên đường.

(Theo Nguyễn Phan Hách)

Câu 9

Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh bài văn sau:

Nắng trưa

Nắng trưa cứ như từng dòng lửa xối xuống (mặt đất / đất liền).

Buổi trưa ngồi trong nhà (nhìn / coi) ra sân, thấy rất rõ những sợi không khí nhỏ bé, mỏng mảnh, nhẹ tênh, vòng vèo lượn từ mặt đất bốc lên, bốc lên mãi. Tiếng gì xa vắng thế?

Tiếng võng (kẽo kẹt / cót két) kêu buồn buồn từ nhà ai vọng lại. Thỉnh thoảng, câu ru em cất lên từng đoạn à ơi... Hình như chị ru em. Em ngủ và chị cũng (thiu thiu / khò khò) ngủ theo. Em chợt thức làm chị bừng tỉnh và tiếp tục à ơi. Cho nên câu hát cứ cất lên từng đoạn từng đoạn rồi ngừng lại, rồi cất lên, rồi lại lịm đi trong cái nặng nề của hai mí mắt (khép / tịt) lại.

Con gà nào cất lên tiếng gáy. Và ở góc vườn, tiếng cục tác làm nắng trưa thêm oi ả, ngột ngạt. Không một tiếng chim, không một sợi gió. Cây chuối cũng ngủ, tàu lá lặng đi như (thiếp / ngủ) vào trong nắng. Đường làng vắng ngắt. Bóng tre, bóng duối cũng lặng im.

Ấy thế mà mẹ phải (lấy / ) vội cái nón cũ, đội lên đầu, bước vào trong nắng, ra đồng cấy nốt thửa ruộng chưa xong.

Thương mẹ biết bao nhiêu, mẹ ơi!

(Theo Băng Sơn)