Phần 1

(9 câu)
Câu 1

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

“KHOẢNG TRỜI, HỐ BOM”

                                                           (Hòa Bình)

        Lâm Thị Mỹ Dạ làm bài thơ Khoảng trời, hố bom tại Trường Sơn vào tháng 10 năm 1972, một trong những thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trên dãy Trường Sơn, ngày nào cũng có sự hy sinh của bộ đội, thanh niên xung phong. Sự hy sinh của họ đã trở thành những biểu tượng tuyệt đẹp trong văn học. Bài thơ như câu chuyện kể về sự hi sinh dũng cảm của một cô gái mở đường: “Chuyện kể rằng em cô gái mở đường/ Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương/ Cho đoàn xe kịp giờ ra trận/ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”. Chất tự sự khá đậm rõ: khi đơn vị hành quân qua con đường mòn, những chiến sĩ ra trận chỉ còn thấy hố bom và huyền tích về người con gái hi sinh. Giọng thơ không còn cứng cỏi, vang vang như trước nữa mà nó đã lắng xuống, trầm vọng như tiếng thở dài đầy thương cảm: “Em nằm dưới đất sâu”. Không thương cảm sao được khi biết rằng cô gái “nằm dưới đất sâu” giữa những hố bom nham nhở đang còn trẻ lắm; đấy là một trinh nữ anh hùng, một biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước Việt Nam: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

      Sự hy sinh của cô gái chính là thông điệp mà tác giả gửi gắm vào bài thơ bằng những so sánh và hình ảnh đẹp trong thi phẩm. "Em...” trở thành “khoảng trời đã nằm yên trong đất”. Đấy là một khoảng trời được tỏa sáng bởi tâm hồn người con gái nên đêm đêm “Những vì sao ngời chói, lung linh”. Ta hầu như không còn thấy nữa sự tan hoang, chết chóc nữa, mà vượt lên tất cả, bao trùm tất cả là vẻ đẹp bao la, vĩnh hằng của thiên nhiên đất nước với sự hóa thân, dâng hiến của em: “Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong/ Đã hóa thành những vầng mây trắng?/ Và ban ngày khoảng trời ngập nắng/ Đi qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức/ Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực...”. Ở đây có hai khoảng trời soi ngắm nhau; một khoảng trời “thật” trên cao có các vì sao, có mây trắng, có ánh nắng vầng dương và một khoảng trời “ảo” - “khoảng trời hố bom” - nằm trong đất có tâm hồn, thịt da, trái tim của người trinh nữ dũng cảm. Hai khoảng trời ấy đều đẹp đẽ, lung linh và vĩnh hằng trong sự liên tưởng đầy tài hoa của tác giả. Sự hy sinh của cô gái mở đường là những dâng hiến lưu lại vĩnh viễn trên mặt đất, non sông này: “Tên con đường là tên em gửi lại/ Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái".

        Từ “khoảng trời hố bom” đến “khoảng trời con gái” là sự thăng hoa bất ngờ của cảm xúc và trí tuệ mà hình như trời đã “ban” cho Lâm Thị Mỹ Dạ. Cả bài thơ đều hay nhưng nếu được chọn câu hay nhất, tôi sẽ không ngần ngại đề xuất câu “Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái”. Chủ đề tư tưởng và thủ pháp nghệ thuật của bài thơ tập trung trọn vẹn trong câu thơ chỉ 8 âm tiết này.

        Tuy nhiên, cái hay đạt độ tinh diệu của bài thơ không nằm ở đấy mà nó lung linh phát sáng bởi những so sánh, biểu tượng đầy nghệ thuật sau khúc dạo đầu trên. Những liên tưởng: “Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/Những vì sao ngời chói lung linh”; những so sánh: “Em nằm dưới đất sâu/Như khoảng trời đã nằm yên trong đất”, nối tiếp nhau, bổ sung nhau, tôn vinh nhau làm nên vẻ đẹp và sức sống của bài thơ. Từ không đến có, từ hữu hạn đến vô hạn, từ cụ thể đến trừu tượng là điều tôi cảm nhận được ở hai câu kết: "Gương mặt em bạn bè tôi không biết/ Nên mỗi người có gương mặt em riêng".

      Đọc lại "khoảng trời hố bom" sau hơn 40 năm tác phẩm ra đời, tôi càng thấm thía điều này: Thơ hay phải chứa trong nó những xúc cảm đầy đặn, những tư tưởng thời đại, gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân và được biểu hiện bằng những hình ảnh độc đáo mang dấu ấn sáng tạo của tác giả. Cách tân đến đâu, mới lạ về hình thức đến mấy mà rời xa, thoát ly dân tộc thì chắc chắn sớm hay muộn nó sẽ bị lãng quên như một số trường hợp người làm thơ trong mấy chục năm qua.

(Theo cand.com.vn)

Câu 1:

Theo tác giả, chất tự sự của bài thơ Khoảng trời, hố bom thể hiện qua yếu tố nào?

Bài thơ như kể về thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Bài thơ như kể về những đêm hành quân vượt suối băng rừng của quân ta.
Bài thơ như kể về câu chuyện hi sinh dũng cảm của cô gái mở đường.
Bài thơ như kể về quãng đời thanh xuân tươi đẹp của cô gái mở đường.
Câu 2:

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?

Tự sự.
Nghị luận.
Biểu cảm.
Miêu tả.
Câu 3:

Đối tượng nghị luận của văn bản là gì?

Hình ảnh người con gái trong bài thơ Khoảng trời, hố bom.
Tài năng của tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ thể hiện trong bài thơ Khoảng trời, hố bom.
Chất tự sự trong bài thơ Khoảng trời, hố bom.
Bài thơ Khoảng trời, hố bom.
Câu 4:

Câu văn nào sau đây góp phần giới thiệu luận đề của văn bản?

Sự hy sinh của cô gái chính là thông điệp mà tác giả gửi gắm vào bài thơ bằng những so sánh và hình ảnh đẹp trong thi phẩm.
Sự hy sinh của họ đã trở thành những biểu tượng tuyệt đẹp trong văn học.
Lâm Thị Mỹ Dạ làm bài thơ Khoảng trời, hố bom tại Trường Sơn vào tháng 10 năm 1972, một trong những thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Từ “khoảng trời hố bom” đến “khoảng trời con gái” là sự thăng hoa bất ngờ của cảm xúc và trí tuệ mà hình như trời đã “ban” cho Lâm Thị Mỹ Dạ.
Tuy nhiên, cái hay đạt độ tinh diệu của bài thơ không nằm ở đấy mà nó lung linh phát sáng bởi những so sánh, biểu tượng đầy nghệ thuật sau khúc dạo đầu trên.
Câu 5:

Câu văn sau là yếu tố nào của văn bản?

Chất tự sự khá đậm rõ: khi đơn vị hành quân qua con đường mòn, những chiến sĩ ra trận chỉ còn thấy hố bom và huyền tích về người con gái hi sinh.

Bằng chứng.
Lí lẽ.
Luận đề.
Luận điểm.
Câu 6:

Trong bài viết, tác giả cho rằng câu thơ nào là hay nhất?

Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái.
Đi qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức.
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa.
Đã hóa thành những vầng mây trắng?
Câu 7:

Nhan đề của bài viết giúp người đọc

hiểu được thông điệp của văn bản.
nhận diện được luận đề của văn bản.
phân tích được nội dung văn bản.
xác định được cấu trúc của văn bản.
Câu 8:

Đoạn văn sau được viết theo kiểu nào?

     Tuy nhiên, cái hay đạt độ tinh diệu của bài thơ không nằm ở đấy mà nó lung linh phát sáng bởi những so sánh, biểu tượng đầy nghệ thuật sau khúc dạo đầu trên. Những liên tưởng: “Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/Những vì sao ngời chói lung linh”; những so sánh: “Em nằm dưới đất sâu/Như khoảng trời đã nằm yên trong đất”, nối tiếp nhau, bổ sung nhau, tôn vinh nhau làm nên vẻ đẹp và sức sống của bài thơ. Từ không đến có, từ hữu hạn đến vô hạn, từ cụ thể đến trừu tượng là điều tôi cảm nhận được ở hai câu kết: "Gương mặt em bạn bè tôi không biết/ Nên mỗi người có gương mặt em riêng".

Song song.
Phối hợp.
Quy nạp.
Diễn dịch.
Câu 9:

Chọn 4 luận điểm trong văn bản.

Những so sánh, biểu tượng đầy nghệ thuật.
Sức sống của bài thơ.
Chất tự sự kết hợp yếu tố lãng mạn tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ.
Bài thơ như câu chuyện kể về sự hi sinh dũng cảm của một cô gái mở đường.
Những cách tân độc đáo về mặt hình thức của bài thơ.
Sự hy sinh của cô gái chính là thông điệp mà tác giả gửi gắm vào bài thơ bằng những so sánh và hình ảnh đẹp trong thi phẩm.
Câu 10:

Đoạn văn sau đây là bằng chứng khách quan hay ý kiến chủ quan của tác giả?

     Ở đây có hai khoảng trời soi ngắm nhau; một khoảng trời “thật” trên cao có các vì sao, có mây trắng, có ánh nắng vầng dương và một khoảng trời “ảo” - “khoảng trời hố bom” - nằm trong đất có tâm hồn, thịt da, trái tim của người trinh nữ dũng cảm. Hai khoảng trời ấy đều đẹp đẽ, lung linh và vĩnh hằng trong sự liên tưởng đầy tài hoa của tác giả.

Bằng chứng khách quan.
Ý kiến chủ quan của tác giả.
Câu 11:

Trong đoạn đầu, tác giả đã sử dụng những cách đưa ra dẫn chứng nào?

Trích dẫn nhận định, đánh giá của nhà phê bình.
Trích dẫn câu nói dân gian.
Trích dẫn nguyên văn dòng thơ, đoạn thơ, từ ngữ của văn bản Khoảng trời, hố bom.
Trích dẫn dòng thơ của văn bản khác để so sánh.
Câu 12:

Bài viết thuộc kiểu văn bản

nghị luận về một hiện tượng xã hội.
nghị luận về một vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học.
nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
nghị luận về một tác phẩm văn học.
Câu 2

Điền vào chỗ trống.

/.../ là hành vi sao chép lời nói, ý tưởng, quan điểm,... của người khác và coi nó như là của riêng mình. 

Tham khảo.
Trích dẫn.
Tra cứu.
Đạo văn.
Câu 3

Trong ngữ liệu sau, người viết đã lựa chọn cách trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp?

      Lã Nhâm Thìn rất tinh tường: “Hầu hết những hình tượng trong thơ Hồ Xuân Hương đều được sự gợi ý, trực tiếp hay gián tiếp, xa hay gần, mơ màng hay cụ thể, từ vẻ đẹp của thân thể người phụ nữ. Hồ Xuân Hương có dụng ý kiến tạo hình tượng theo thể hình tuyệt vời ấy".

Gián tiếp.
Trực tiếp.

 

Câu 4

Trong bài văn nghị luận, lí lẽ và dẫn chứng có nhiệm vụ gì?

Thể hiện thông điệp của bài viết.
Làm sáng tỏ luận điểm.
Giúp nội dung văn bản thêm gần gũi, sinh động.
Giới thiệu đối tượng nghị luận.
Câu 5

Trong phần thân bài của bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học, người viết cần

nêu ý kiến khái quát về chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
giới thiệu về tác phẩm văn học.
trình bày các luận điểm làm nổi bật chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong tác phẩm.
nêu suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm cá nhân hoặc bài học rút ra từ tác phẩm.
Câu 6

Phân tích một tác phẩm văn học thuộc kiểu bài văn

tóm tắt tác phẩm văn học.
nghị luận văn học.
kể lại một tác phẩm văn học.
giới thiệu một tác phẩm văn học.
Câu 7

Nối các ngữ liệu với cách trích dẫn phù hợp.

Câu 8

Trích dẫn dưới đây thiếu thông tin nào?

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên). NXB Đại học Quốc gia. 2000

Tác giả.
Tên tác phẩm.
Nhà xuất bản.
Năm xuất bản.

Câu 9

Trích dẫn dưới đây có những thông tin nào?

Theo Lưu Khánh Thơ, Kì nữ Hồ Xuân Hương - Đời và thơ, http://ct.qdnd.vn, ngày 24/12/2021

Số trang.
Tên tác phẩm.
Nhà sản xuất.
Địa chỉ trang.
Tác giả.
Ngày đăng bài.