NHỮNG CÂU HÁT CHÂM BIẾM
1. Cái cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào(1) lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm(2),
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa(3),
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh(4).
2. Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ngày 30 Tết thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng,
Sinh con đầu lòng, chẳng gái thì trai.
3. Con cò chết rũ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
Cà cuống(5) uống rượu la đà,
Chim ri(6) ríu rít bò ra lấy phần,
Chào mào(7) thì đánh trống quân(8)
Chim chích(9) cởi trần, vác mõ đi rao.
4. Cậu cai(10) nón dấu lông gà
Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
Ba năm được một chuyến sai,
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.
Chú thích:
(1) Cô yếm đào: cô gái mặc yếm màu hoa đào (yếm: đồ mặc lót che ngực của phụ nữ thời xưa).
(2) Tửu: rượu; tăm: bọt sủi lên; đây là cách nói hoán dụ, dùng ghép với từ tửu để chỉ rượu.
(3) Ý nói để khỏi đi làm.
(4) Mỗi đêm có 5 canh, sau mỗi canh có điểm trống; ước đêm nhiều (thừa) trống canh để được ngủ thêm.
(5) Cà cuống: côn trùng sống ở hồ, vực và ruộng nước sâu, thân hình lá, dẹt, mỏng, đầu vàng nhạt, bụng màu xanh nâu xỉn, phần ngực con đực có hai túi chứa tinh dầu mùi thơm, vị cay.
(6) Chim ri: chim hình giống như chim sẻ, mỏ đen và to.
(7) Chào mào: chim nhỏ, đầu có túm lông nhọn, dưới đuôi có túm lông đỏ.
(8) Đánh trống quân: đánh trống đệm nhịp cho điệu hát trống quân - một điệu dân ca phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
(9) Chim chích: chim nhỏ, ăn sâu bọ, sống ở vùng đồng bằng, trung du.
(10) Cai: tức cai lệ, chức thấp nhất trong quân đội thời phong kiến.